Những ngày này, cả đất nước rộn ràng chào đón 80 năm ngày Quốc khánh (2/0/1945 - 2/9/2025). Một bầu không khí rất đặc biệt bao trùm lên mọi nẻo phố Hà Nội. Những ngày này của 80 năm trước, chắc hẳn người Việt Nam cũng đang hồi hộp, đợi chờ và hân hoan chuẩn bị bước vào một chương mới của đất nước.
Chiều 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước giây phút lịch sử ấy, một nghi thức trang trọng được thực hiện: lễ chào cờ Tổ quốc. Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay trên bầu trời thủ đô, trong tiếng “Tiến quân ca” vang vọng và tiếng hô vang của hàng chục vạn người dân.
Điều đặc biệt là nghi lễ kéo cờ ấy không do một vị tướng hay chiến sĩ nam đảm nhiệm, mà do hai cô gái trẻ mới 19 tuổi: Lê Thi (tên thật Dương Thị Thoa) và Đàm Thị Loan. Họ được trao trọng trách lịch sử – chính tay kéo lá Quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập lần đầu tiên lên đỉnh cột cờ. Trong bài viết này, The Influencer mời bạn lắng lại và cùng nghe câu chuyện về hai cô gái đặc biệt này.
Lê Thi và Đàm Thị Loan, họ là ai và họ đã làm gì trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này của cả nước?
Lê Thi (bí danh, tên khai sinh Dương Thị Thoa) sinh ngày 3/6/1926, quê gốc ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà sinh ra và lớn lên tại số nhà 98 Hàng Bông, Hà Nội, trong một gia đình trí thức yêu nước có tám anh chị em. Cha bà là nhà giáo Dương Quảng Hàm.
Năm 17 tuổi (1943), bà tốt nghiệp phổ thông và sớm được giác ngộ cách mạng. Bà tham gia hoạt động bí mật trong Hội Phụ nữ Cứu quốc của Việt Minh tại Hà Nội với nhiệm vụ tuyên truyền, vận động phụ nữ ủng hộ cách mạng. Thời gian đầu tháng 8/1945, bà được tổ chức phân công làm cán bộ phụ nữ ở khu phố Hàng Bông (quận Hoàn Kiếm) – phụ trách gây dựng phong trào, vận động chị em quyên góp tiền của giúp Việt Minh chuẩn bị khởi nghĩa. Bà lấy bí danh Lê Thi khi hoạt động bí mật.
Đàm Thị Loan (bí danh, tên khai sinh Đàm Thị Nết) sinh ngày 26/8/1926 trong một gia đình người dân tộc Tày có truyền thống cách mạng tại thôn Ảng Giàng, xã Bình Long, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Năm 16 tuổi (cuối 1941), cô thoát ly gia đình để tham gia cách mạng theo lời gọi của Tỉnh ủy Cao Bằng.
Tháng 12/1944, với bí danh Đàm Thị Loan, cô nhận được lệnh của đồng chí Võ Nguyên Giáp (bí danh Văn) triệu tập về Tổng Hoàng Hoa Thám để nhận nhiệm vụ mới. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), Đàm Thị Loan có mặt trong lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Cô trở thành một trong số ít nữ đội viên đầu tiên của đội quân chủ lực non trẻ. Đến đầu tháng 9/1945, nữ chiến sĩ 19 tuổi này có mặt trong đội quân Giải phóng quân bảo vệ Thủ đô, sẵn sàng cho lễ ra mắt chính quyền cách mạng.
Theo hồi ức của ông Vũ Kỳ (thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh), Bác Hồ đã gợi ý Ban tổ chức nên chọn những phụ nữ tiêu biểu đảm nhiệm nghi thức kéo cờ, để hình ảnh buổi lễ thêm phần ý nghĩa.
Thực hiện chỉ thị ấy, chiều tối ngày 1/9/1945, tại địa điểm đóng quân của đơn vị Giải phóng quân ở trại Bảo an binh cũ (phố Hàng Bài, Hà Nội), Chính trị viên Đàm Quang Trung đã gọi Đàm Thị Loan lên giao nhiệm vụ: “Ngày mai mùng 2/9, đơn vị ta được vinh dự cử một đồng chí nữ ra kéo cờ cùng với một nữ sinh của thành phố. Ban chỉ huy đã nhất trí cử đồng chí Loan. Đồng chí chuẩn bị tinh thần và trang phục để thực hiện nhiệm vụ cho tốt”. Nhận nhiệm vụ, cô gái trẻ Đàm Thị Loan vừa tự hào vừa xúc động đến “lặng người”; đêm hôm đó, cô “hạnh phúc đến bất ngờ” và thao thức không sao ngủ được vì hồi hộp chờ đến giờ phút trọng đại của dân tộc và của chính mình.
Trong khi đó, tại Hà Nội, nữ cán bộ Lê Thi cũng không hề hay biết trước rằng mình sẽ tham gia nghi lễ đặc biệt này. Sáng 2/9/1945, Lê Thi dẫn đầu gần 100 phụ nữ Hàng Bông đi đến Quảng trường Ba Đình. Tất cả mặc quần trắng, áo dài trắng, đi giày ba-ta cho đồng bộ. Ngay trước giờ khai mạc, một cán bộ Ban tổ chức đi tới khu phụ nữ và thông báo: “Các chị cử 1 người lên kéo cờ”. Giây phút đó, tất cả chị em xung quanh Lê Thi nhất thời im lặng, rồi gần như đồng loạt hướng về cô và reo lên: “Thi lên đi!”. Được mọi người tín nhiệm, Dương Thị Thoa (Lê Thi) bước ra khỏi hàng, tiến lên lễ đài nhận nhiệm vụ kéo lá cờ Tổ quốc.
Như vậy, sáng 2/9/1945, hai cô gái trẻ từ hai hoàn cảnh khác nhau đã được lịch sử “chọn mặt gửi vàng” cho một nhiệm vụ đặc biệt. Lê Thi đại diện cho lớp nữ sinh thủ đô, còn Đàm Thị Loan đại diện cho phụ nữ dân tộc thiểu số và lực lượng vũ trang cách mạng. Họ đến với nghi lễ kéo cờ bằng những con đường khác nhau – một người được cấp trên phân công từ trước, một người được đồng đội đề cử tại chỗ – nhưng cuối cùng đã gặp nhau để cùng làm nên khoảnh khắc không thể nào quên của Ngày Độc lập.
Đúng 14 giờ chiều ngày 2/9/1945, buổi lễ Tuyên ngôn Độc lập bắt đầu. Dưới chân cột cờ trước lễ đài, Đàm Thị Loan trong bộ quân phục giản dị (áo đồng màu, đầu đội mũ calô gắn sao vàng) đứng túc trực bên lá cờ đỏ sao vàng. Cạnh cô, Lê Thi thướt tha trong tà áo dài trắng, nét mặt không giấu nổi vẻ hồi hộp xen lẫn vinh dự.
Khi tất cả đã vào vị trí, tiếng hô nghiêm trang “Chào cờ… chào!” vang lên. Hai cô gái thiếu niên bắt đầu thực hiện phần việc lịch sử của mình. Lê Thi – với lợi thế cao hơn – nhận kéo dây cờ, còn Đàm Thị Loan hỗ trợ đỡ lá cờ cho thẳng thớm. Trong tiếng nhạc “Tiến quân ca” hùng tráng, hai chị từ từ kéo lá quốc kỳ lên đỉnh cột cờ, động tác nhịp nhàng ăn khớp với nhau và với từng câu từng nốt của bản quốc ca. Giây phút lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên cao và tung bay phấp phới cũng vừa kịp lúc bài Tiến quân ca kết thúc – cả hai cô gái “mới thở phào nhẹ nhõm” vì biết nhiệm vụ đã được hoàn thành tốt đẹp.
Lá cờ trên Lễ đài mà nữ giải phóng quân người Tày Đàm Thị Loan và nữ sinh Lê Thi đã cùng kéo lên trong Lễ Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945)
Giáo sư Lê Thi sau này kể rằng khi bài Quốc ca vừa dứt và lá quốc kỳ tung bay trên nền trời Ba Đình, bà “thở phào nhẹ nhõm, vui sướng, nước mắt bỗng ứa ra vì xúc động xen lẫn tự hào”. Niềm xúc động vỡ òa khiến cô nữ sinh 19 tuổi không cầm được nước mắt – đó là giọt nước mắt hạnh phúc khi mơ ước bao năm của thế hệ mình đã thành sự thật: lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng nay chính thức trở thành Quốc kỳ của một nước Việt Nam độc lập.
Về phần Đàm Thị Loan, những hồi tưởng của bà được ghi lại trong cuốn hồi ký “Từ Việt Bắc đến Tây Ninh”. Khi lá cờ đã lên đỉnh cột và toàn thể đồng bào cất tiếng “Xin thề”, từ tận đáy lòng, cô gái dân tộc Tày năm xưa nhận ra một cách rõ ràng “thế nào là sức mạnh của quần chúng khi được giác ngộ, thế nào là sức mạnh của cách mạng”.
Điều thú vị là tại thời điểm cử hành nghi lễ, hai cô gái kéo cờ vẫn chưa biết tên nhau. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Lê Thi chỉ kịp chia tay người đồng đội mới quen mà chưa kịp hỏi danh tính. Mãi nhiều năm sau, bà mới biết đó là Đàm Thị Loan – và phải đến ngày 2/9/1997 (sau 52 năm) hai người phụ nữ lịch sử mới có dịp gặp lại và chụp chung một bức ảnh kỷ niệm ngay tại Quảng trường Ba Đình.
Bà Lê Thi (trái) gặp lại bà Đàm Thị Loan tại Quảng trường Ba Đình, đúng vào dịp Quốc khánh 2/9/1997 – sau hơn nửa thế kỷ kể từ ngày hai bà cùng kéo cờ Tổ quốc trên lễ đài độc lập năm 1945.
Sau lễ Độc lập, bà Lê Thi tiếp tục hoạt động trong Hội Phụ nữ Cứu quốc, giữ nhiều vị trí lãnh đạo ở Hà Nội, Vĩnh Yên, Tuyên Quang. Trong kháng chiến chống Pháp, bà tham gia Trung đoàn Thủ đô bảo vệ Hà Nội. Từ năm 1956, bà theo học tại Trường Nguyễn Ái Quốc và sau đó chuyển sang nghiên cứu, giảng dạy triết học. Bà từng là Viện trưởng Viện Triết học, sáng lập và lãnh đạo Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới. Được phong học hàm Giáo sư năm 1991, bà có nhiều công trình về giới và bình đẳng phụ nữ. Giáo sư Lê Thi sống thọ, mất năm 2020, hưởng thọ 95 tuổi.
Bà Đàm Thị Loan và ông Hoàng Văn Thái trong trang phục Giải phóng quân tiến về Hà Nội, năm 1945.
Còn về bà Đàm Thị Loam, sau Cách mạng Tháng Tám, bà kết hôn với Đại tướng Hoàng Văn Thái, vị Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bà tiếp tục công tác trong quân đội nhưng chủ yếu giữ vai trò hậu phương, nuôi dạy con cái và đồng hành cùng chồng trong kháng chiến. Năm 1986, Đại tướng Hoàng Văn Thái qua đời; đến năm 2010, bà Loan mất tại Hà Nội, hưởng thọ 84 tuổi.
Ngày 2/9/1945, lá cờ đỏ sao vàng được chính tay hai cô gái trẻ kéo lên trong tiếng nhạc “Tiến quân ca” không chỉ là khoảnh khắc lịch sử, mà còn là biểu tượng cho tuổi trẻ, phụ nữ và tinh thần đoàn kết dân tộc. Mỗi thế hệ có một cách riêng để đóng góp cho đất nước: thế hệ năm xưa bằng niềm tin và sự dấn thân trong giờ phút quyết định của dân tộc, thế hệ hôm nay bằng tri thức, sáng tạo và trách nhiệm trong đời sống mới. Nhìn lại câu chuyện của họ, chúng ta càng trân trọng, gìn giữ và nuôi dưỡng những giá trị đã làm nên sức mạnh Việt Nam – để tiếp tục đưa lá cờ ấy bay cao trong hiện tại và tương lai.